(Nhịp sống trẻ) – Chủ trương sáp nhập, sắp xếp lại hệ thống cơ sở giáo dục đại học không chỉ giúp giảm đầu mối, mà để các trường mạnh lên và phát triển bền vững. Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị cũng đặt ra yêu cầu khẩn trương tái cấu trúc, giải thể trường yếu kém, hướng tới hình thành các trung tâm đào tạo đa ngành, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu nhân lực trong thời kỳ mới.

Nhiều trường đại học tuyển sinh lay lắt
Mùa tuyển sinh năm nay, trong khi nhiều trường đại học có điểm chuẩn cao chót vót, thậm chí đạt 30/30 điểm thì hàng loạt trường khác phải thông báo xét tuyển bổ sung hàng trăm sinh viên. Điểm xét tuyển phổ biến từ 15 đến 18/30 điểm; gồm cả những ngành như y khoa, sư phạm… khiến dư luận băn khoăn, và đặt câu hỏi về năng lực đào tạo của nhiều cơ sở giáo dục đại học.
“Quá nhiều trường đại học, tuyển sinh ồ ạt, có những cháu chỉ khoảng 15 – 16 điểm/3 môn cũng được trường gửi thư mời nhập học. Điểm đầu vào thấp như vậy liệu có đảm bảo chất lượng giảng dạy. Những học sinh, sinh viên đó sau ra thị trường lao động liệu có đủ sức cạnh tranh?” – chị Nguyễn Thu Huyền – phụ huynh có con học lớp 11 tại Hà Nội – chia sẻ.
Thực tế, vấn đề này cũng đã nhiều lần được các chuyên gia đề cập và theo quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021-2030 do Bộ GDĐT đưa ra, sẽ hình thành các trung tâm giáo dục đại học lớn, khoảng 50 đến 60 cơ sở giáo dục đại học đào tạo tới trình độ tiến sĩ; sắp xếp thu gọn một số cơ sở giáo dục đại học công lập; tổ chức lại các trường đại học sư phạm về thể dục, thể thao, nghệ thuật. Tái cấu trúc và phát triển các trường đại học thành các cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là công nghệ và kỹ thuật.
Đối với các trường cao đẳng sư phạm, sắp xếp và tổ chức theo hướng sáp nhập với một trường đại học sư phạm hoặc cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực (có trường, khoa sư phạm hoặc khoa học cơ bản); Sáp nhập vào một cơ sở giáo dục đại học tại địa phương hoặc trong vùng. Sáp nhập, hợp nhất với một số cơ sở giáo dục khác tại địa phương.

Bộ GDĐT chuẩn bị cuộc đại sắp xếp lại các cơ sở giáo dục
Thống kê của Bộ GDĐT, hiện cả nước có 11 đại học; 173 trường đại học, học viện (không gồm đại học quốc gia, đại học vùng), trong đó có 61 trường đại học tư thục và 5 trường đại học nước ngoài; 8 trường đào tạo bồi dưỡng có hoạt động giáo dục đại học; 40 viện nghiên cứu đào tạo trình độ tiến sĩ và 5 cơ sở khác được đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Số trường thuộc khối quốc phòng, an ninh là 40 trường.
Nói về chủ trương lớn này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cho biết, trừ các trường khối công an, quân đội và trường ngoài công lập, sẽ sắp xếp lại khoảng 140 trường công lập rải rác thuộc các bộ, ngành Trung ương và địa phương.
Bộ đang tính nhiều phương án, như việc chuyển các trường thuộc khối Trung ương, do bộ, ngành quản lý về địa phương. Có thể sáp nhập trường ở địa phương vào trường Trung ương. Hay có thể các trường thuộc bộ, ngành nhập với nhau, nhiều trường địa phương nhập vào nhau… Một số trường sẽ bị giải tán nếu quy mô quá nhỏ, không đạt tiêu chuẩn…
PGS.TS Nguyễn Đức Sơn – Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ủng hộ chủ trương sắp xếp, sáp nhập các cơ sở giáo dục đại học vì lý do “quá nhiều trường đại học sẽ phân tán nguồn lực”.
“Có những trường chỉ đôi trăm giảng viên, tức là nguồn lực không đủ vẫn cố để đào tạo. Điều này dẫn đến hệ quả như vòng tròn không lối thoát là cố có sinh viên để tồn tại, đồng nghĩa đầu vào thấp, kéo theo chất lượng thấp. Việc phân tán và manh mún như vậy không đem lại được chất lượng giáo dục tốt” – PGS.TS Nguyễn Đức Sơn nói.
Ngoài ra, các đơn vị lớn với quy mô lớn sẽ có khả năng sử dụng chung về nguồn lực gồm nguồn lực về giảng viên, nguồn lực về phòng thí nghiệm. Ông nêu ví dụ: Hiện nay, phòng thí nghiệm đắt tiền không thể mỗi trường có một phòng riêng. Nhưng trường lớn và phòng thí nghiệm sử dụng cho nhiều ngành thì lập tức thực hiện được. Giống như nhìn vào nền nông nghiệp, cứ mỗi nơi một khoảnh thì không bao giờ trở thành một nền nông nghiệp hàng hóa được.
Gợi ý phương án sắp xếp
TS Lê Viết Khuyến – Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam – cho rằng, việc sáp nhập các trường đại học là xu hướng tất yếu, tuy nhiên, cần nghiên cứu kỹ, thực hiện thận trọng, có kế hoạch, nguyên tắc.
Đề xuất phương án sắp xếp, quy hoạch lại các trường đại học công lập, ông Khuyến cho rằng, không nên nhập các trường cùng lĩnh vực, vì dễ dẫn tới cạnh tranh nội bộ. Nên nhập các trường khác lĩnh vực để hình thành đại học đa ngành, đa lĩnh vực. Bên cạnh đó, cần phân loại rõ đại học tinh hoa, đại học vùng và đại học địa phương. Mỗi loại có sứ mệnh riêng, không thể gộp cơ học.
“Biện pháp khả thi là xây dựng hệ thống ba tầng rõ ràng: Đại học quốc gia giữ vai trò tinh hoa; Đại học vùng phục vụ một khu vực rộng; Đại học địa phương chỉ đảm trách đào tạo nhân lực cho tỉnh, thành phố.
TPHCM, Hà Nội có thể đi đầu trong việc áp dụng cách phân loại này, từ đó làm mẫu cho cả nước. Nếu làm đúng, 2 nơi này sẽ là nơi hình thành một hệ thống đại học đa ngành, đa lĩnh vực mạnh, vừa có đại học tinh hoa dẫn dắt, vừa có các trường địa phương làm tốt vai trò đào tạo cho thị trường lao động. Ngược lại, nếu tiếp tục manh mún, cục bộ thì sẽ tụt hậu so với xu thế quốc tế” – TS Lê Viết Khuyến nhấn mạnh.
Ông cũng cho rằng, cần thống nhất quản lý, tránh gây phân tán nguồn lực. Muốn sáp nhập thành công, phải quy về một đầu mối là Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sau đó, khi trường đủ năng lực, hãy trao quyền tự chủ thực sự.
4 lưu ý trong quá trình quy hoạch, sáp nhập các cơ sở giáo dục đại học
PGS.TS Nguyễn Thanh Chương – Chủ tịch Hội đồng trường Trường Đại học Giao thông Vận tải – ủng hộ chủ trương quy hoạch, sáp nhập các cơ sở giáo dục đại học. Đánh giá dưới góc độ tuyển sinh, ông Chương cho rằng: “Cần đánh giá, trường nào tuyển sinh kém thì dừng, trường nào tốt, điều kiện tốt, cần được tăng chỉ tiêu tuyển sinh. Đây là quy luật”.
Đồng quan điểm, TS Hoàng Ngọc Vinh – nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp, Bộ GDĐT – cho rằng, chủ trương quy hoạch các trường đại học là cần thiết trong bối cảnh tự chủ giáo dục đại học và trước những thay đổi về chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
Theo ông Vinh, có một số nguyên tắc quan trọng trong việc sáp nhập, quy hoạch các cơ sở giáo dục đại học mà Bộ GDĐT cần lưu ý.
Thứ nhất, việc quy hoạch phải gắn với sự phát triển kinh tế – xã hội. Cần phân tích hiện trạng và dự báo nhu cầu nhân lực trình độ cao ở cả cấp quốc gia, từng địa phương, từng vùng kinh tế, từ đó xác định quy mô ngành nghề, cơ sở vật chất, quỹ đất và đội ngũ giảng viên.
Thứ hai, cần tính đến năng lực quản lý của địa phương. Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu “nghiên cứu chuyển một số trường đại học về địa phương quản lý để nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng tốt hơn yêu cầu đào tạo nhân lực của địa phương”.
Tuy nhiên, quá trình này phải được cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở tiêu chí cụ thể và đi kèm cơ chế giám sát chặt chẽ. Chỉ như vậy mới duy trì được chất lượng, tránh tình trạng suy giảm do hạn chế nguồn lực địa phương hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự chủ đại học.
Thứ ba, cần chú trọng bài toán nhân sự và tổ chức sau sáp nhập. Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên phải được bố trí hợp lý để tạo ra sự cộng hưởng, tránh chồng chéo. Đồng thời, các ngành đào tạo không hiệu quả, tuyển sinh kém cần được rà soát, thu gọn hoặc tích hợp nhằm tập trung nguồn lực.
Thứ tư, quá trình sáp nhập cần bảo đảm quyền lợi và chất lượng học thuật. Việc tổ chức lại phải đi kèm với cơ chế bảo vệ quyền lợi của sinh viên, giảng viên và cán bộ để không gây xáo trộn đột ngột. Các trường sau sáp nhập phải duy trì và nâng cao chuẩn đào tạo, hệ thống kiểm định, chuẩn đầu ra, coi chất lượng học thuật là yếu tố cốt lõi, tránh tình trạng “to xác nhưng kém chất”.
|
Bộ GDĐT sẽ trực tiếp quản lý các đại học, trường đại học trọng điểm Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang lấy ý kiến dự thảo nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Nghị quyết nhằm thể chế hóa nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Dự thảo nghị quyết dự kiến được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 10 tới. Tại điều 3, dự thảo nghị quyết nêu: Tiếp tục sắp xếp, tái cấu trúc cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên công lập (trừ cơ sở giáo dục trực thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao); hợp nhất trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên thành trường trung học nghề theo khu vực liên phường, xã; thực hiện theo hướng giảm đầu mối, gắn trách nhiệm quản lý chuyên môn với nhân sự và tài chính, xóa bỏ cấp trung gian, bảo đảm hệ thống quản trị tinh gọn, thống nhất, hiệu quả. Đặc biệt, Bộ GDĐT trực tiếp quản lý các đại học, trường đại học trọng điểm hoặc đã được quy hoạch là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm quốc gia về kỹ thuật và công nghệ được giao dẫn dắt mạng lưới trung tâm đào tạo xuất sắc và tài năng, trường cao đẳng thực hiện chức năng trung tâm vùng, trung tâm quốc gia đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao; Bộ Y tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý cơ sở giáo dục đại học đào tạo chuyên sâu đặc thù. Chuyển các cơ sở giáo dục còn lại về địa phương quản lý, bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính; Nghiên cứu sáp nhập các viện nghiên cứu với các cơ sở giáo dục đại học (trừ tổ chức khoa học công nghệ công lập đặc thù). |
|
Làn sóng sáp nhập đại học ở Trung Quốc và Pháp Việc sáp nhập các trường đại học đã trở thành xu hướng tại nhiều quốc gia ở các châu lục, nhằm gia tăng sức cạnh tranh quốc tế và khắc phục những hạn chế trong hệ thống giáo dục sở tại. Tại Pháp, quá trình này được khởi xướng từ đầu những năm 2000, trong khi ở Trung Quốc, ba làn sóng sáp nhập mạnh mẽ diễn ra từ năm 1992 đến 2000. Tại Pháp, đại học Grenoble là nơi tiên phong sáp nhập với đại học “Grenoble Universités” năm 2002, sau đó lan rộng ra nhiều địa phương. Bộ Giáo dục Pháp đã ủng hộ và thúc đẩy hình thành các Tổ chức Nghiên cứu và Giảng dạy Đại học (PRES), tập trung tăng cường danh tiếng quốc tế. Đến năm 2012, có 26 PRES được thành lập. Nhiều trường lớn như Strasbourg, Aix-Marseille hay Lorraine đã hợp nhất thành các đại học đa ngành, trong khi các phòng thí nghiệm liên kết giúp tăng năng suất nghiên cứu. Ở châu Á, Trung Quốc bắt đầu làn sóng sáp nhập đại học đầu tiên năm 1992 ở Giang Tô và Quảng Đông, nhanh chóng mở rộng khắp cả nước. Trong giai đoạn 1993 – 1997, nhiều đại học tại Trung Quốc đã hợp nhất để nâng cao chuyên môn và giảm tải các vấn đề gặp phải, có thể kể đến đại học Giang Tây hay Quý Châu. Đỉnh điểm từ 1998 – 2000, hàng loạt cơ sở đã sáp nhập vào các trường hàng đầu như Bắc Kinh, Cát Lâm, Hợp Phì, với mục tiêu xây dựng các trường đại học đẳng cấp thế giới. Kết quả, số lượng sinh viên, công bố khoa học, cũng như thứ hạng quốc tế của các trường đại học tại Trung Quốc tăng nhanh, trong đó nổi bật nhất là Đại học Thanh Hoa và Bắc Kinh, đã vươn lên nhóm dẫn đầu châu Á. Tuy nhiên, quá trình này cũng gây ra khó khăn về hội nhập tổ chức, chi phí cải cách lớn, sự chênh lệch vùng miền và những căng thẳng nội bộ sau hợp nhất. Kinh nghiệm của Pháp và Trung Quốc cho thấy, sáp nhập đại học là công cụ hữu hiệu để mở rộng quy mô, tăng cường hợp tác và cải thiện vị thế toàn cầu, song chỉ phát huy hiệu quả khi được kết hợp với chiến lược quản trị dài hạn, giảm thiểu mâu thuẫn và đảm bảo cân bằng giữa giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ xã hội. |
